BIẾN DẠNG CỦA MỘT BỨC CHÂN DUNG
Nhân ngày giỗ 10 năm Bửu Chỉ (8.10.1948 - 14.12.2002)
Bài và ảnh Võ Quang Yến
Bửu
Chỉ ra đi đã được mười
năm. Biết bao bài báo đã được
viết về anh, một bộ mặt độc
đáo trong làng hội họa. Sinh ra ở
Huế, anh là con cụ Ưng Thuyên, cháu
thi sĩ Tùng Thiện Vương, hậu duệ
năm đời vua Minh Mạng, mẹ là bà
giáo Nguyễn Thị Trâm rất
giỏi tiếng
Pháp. Anh tốt nghiệp đại học luật
(1971) vào những năm phong trào chống
chiến tranh lên cao trước hiệp định
Paris. Tổng
thư ký Hội Sinh viên Sáng tác
Huế,
anh là một trong những sinh viên năng
động nhất những ngày xuống đường,
những đêm không ngủ. Bắt đầu
vẽ biếm họa bút sắt mực
đen từ thời ấy, anh tiếp tục trong
những năm 1973-1974 nằm tù ở khám
Chí Hòa vì tội
chống lệnh nhập ngũ và tổ chức
nổi loạn, bất phục tùng chính
quyền.
Anh để lại một tập tranh vẽ dữ
dội
một
phần lớn trên
các mảnh giấy tố cáo chế độ
lao tù, những cánh cửa ngục tù,
những bàn tay bị xiềng xích cùng
nhau đoàn kết hay những bàn tay bẻ
gãy xiềng xích, cùng nhân dân
kêu đòi cơm áo, tự do, hòa
bình : Ta
phải thấy mặt trời, Một tuổi thơ
chưa kịp lớn, Các thế hệ đi
đầy, Bầy quạ chiến tranh, Người
nữ tù.
Anh dùng chữ Biểu
tượng xã hội (Expressionisme socialiste) để
định nghĩa khuynh
hướng sáng
tác
thời
phong
trào đấu tranh.
Trong phong trào ấy, Trịnh Công Sơn và
Bửu Chỉ luôn cùng nhau sát cánh.
Nếu
nhạc sĩ họ Trịnh
nổi
danh bên phần
nhạc phản chiến
thầm
kín, anh là người
tiêu biểu
cho nền
hội
họa bất
khuất
sôi nổi. " Trong những
năm chiến tranh ác liệt nhất ở
miền Nam, nếu ở địa hạt âm
nhạc tôi viết những ca khúc phản
chiến và khát vọng hòa bình
thì ở phía hội họa, họa sĩ
Bửu Chỉ gần như là người duy
nhất vẽ rất nhiều về đề tài
chiến tranh và hòa bình. Anh nổi
tiếng vào thời ấy với những
tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút
sắt với mực đen. Tranh anh được
in trên các tạp chí nước ngoài
và gây được một dư luận
rộng rãi
" (Trịnh
Công Sơn).

Bửu
Chỉ, Đào Hùng và vợ chồng
tác giả

Bửu
Chỉ ở UNESCO Paris
Ra tù sau ngày
30.04.1975, anh vẽ nhiều tranh sơn dầu, đặc
biệt trên bao bố thay vì giấy hay lụa.
Hiện chúng tôi còn giữ một bức
được anh biếu tặng, hình dung một
cô gái dâng hoa. Bạn của Ngô
Kha, Trịnh Công Sơn, Thái Ngọc San,… anh
chủ trương nghệ thuật trong tự do,
nghệ sĩ phải chính mình đến
với cuộc đời, trung thực, dũng cảm.
Anh hòa nhập vào mạch sống chung của
dân tộc, luôn sáng tạo cho quê
hương, một cội nguồn mãnh liệt,
luôn tìm những
hình thức mới để hoàn hảo
tác phẩm. ”Bây
giờ là những mối ám ảnh triền
miên về không gian, thời gian, về sự
sống và cái chết, về hạnh phúc
và nỗi khổ đau của con người,
của nhân loại trên trái đất..”
(Thái
Ngọc San). Bao nhiêu năng lực thời xưa
anh dành bây giờ cho các lớp sơn
dày mỏng, các màu sắc đậm
lạt, các tia sáng nổi bật trong bóng
tối, anh muốn tìm lại chính mình.
Anh tham dự
nhiều cuộc triển lãm cá nhân
hay tập thể với Hoàng Đăng Nhuận,
Đinh Cường, Trịnh Công Sơn tại
Huế, Tp Hồ Chí Minh, Hồng Kông, Liên
Xô, Paris. Lần lượt anh đảm nhận
lãnh đạo Hội
Văn Học Nghệ Thuật Thừa Thiên Huế,
rồi Bình Trị Thiên, Hội Mỹ Thuật
Việt Nam. Anh là ủy viên Ban chấp hành
Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam.
Anh có tác phẩm trong Viện bảo tàng
Mỹ Thuật Việt Nam, Singapore, trong nhiều bộ
sưu
tập tư nhân ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Sự
nỗ lực sáng tạo nghệ thuật
của anh được
vinh danh trong Huy chương Vì Sự Nghiệp
Mỹ thuật do Hội Mỹ Thuật Việt Nam
trao tặng. Trong lôgô Tạp chí Sông
Hương, hình tượng con chim Phụng
hóa thân thành dòng sông Hương
giang, núi Ngự Bình được
anh thực hiện,
diễn tả tâm
tình một người sống lên trên
một mảnh đất trữ tình, thơ
mộng, một nôi văn chương, mỹ
thuật nhưng với một tinh thần bất
khuất, một lòng yêu tự do vô bờ.


Bửu
Chỉ ở tư thất chúng tôi trên
đồi Hắc Ký Ni Sơn
Năm 1989, Bửu Chỉ
được mời qua triển lãm ở
Paris vào lúc Hội Người Yêu Huế
đang mạnh mẽ cất cánh, liên lạc
văn hóa chặt chẽ với nguồn gốc
quê hương. Những bạn trong Hội lần
lượt đưa anh đi viếng thành
phố ánh sáng, đem đi xem các
cuộc triển lãm, mời anh đi ăn tiệm
hay về nhà ăn cơm. Gia đình chúng
tôi cũng hân hạnh được tiếp
anh một hôm chủ nhật trên đồi
Hắc Ký Ni Sơn trong thung lũng Chevreuse, miền
nam Paris. Trời hôm ấy nắng đẹp
như để đón chào ngưòi
khách quý. Ngắm nghía cô con gái
út của chúng tôi, hai mươi tuổi
xuân xanh, tràn đầy sinh lực, anh đề
nghị vẽ cho nó một bức chân
dung. Anh Chỉ đã từng vẽ nhiều
chân dung, tự họa cũng có. Một
trong những bức đầu tiên nghe nói
là dành cho cô Tường Vi, bà vợ
tương lai của anh. Bên cạnh vô số
những bức vẽ bạn bè, nhiều nhất
là những bức vẽ ông bạn Trịnh
Công Sơn nhắc nhở những bản nhạc Trăng
thiên cổ, Tuổi đá buồn, Một
cõi đi về, Chân dung vô thường,
Tưởng niệm.
Mừng rỡ, chúng tôi nhận lời
ngay, chỉ có cháu gái e lệ không
muốn nhưng rút cuộc cũng chịu ngồi
làm người mẫu. Khi chúng tôi bảo
không có dụng cụ hội họa, anh
bảo không can chi, giấy gì, viết gì
cũng được, anh sẽ ứng biến.
Tôi nhớ là trong tù anh đã vẽ
nhiều với vật liệu tối thiểu. Thế
là với bút viết vở giấy học
trò, anh bắt đầu vẽ ngay trong lúc
uống rượu khai vị. Có lúc anh
nhúng bút bi vào trong dĩa rượu
trắng để
làm mực… Anh vẽ không phải một
bức mà liên tục năm bức, hai
trong thời gian khai vị, hai trong bữa ăn, bức
cuối cùng sau bữa ăn. Thật ra, hôm
ấy, anh chẳng ăn gì nhiều, chúng
tôi bỏ nhiều thì
giờ nói chuyện và uống rượu.
![]()
Tranh
1
|
![]()
Tranh 2
|
Bức tranh đầu
tiên, cũng như mấy bức sau, theo tôi
không giống bao nhiêu người mẫu,
nhưng cho thoát ra một vẻ trẻ trung của
tuổi dậy thì. Họa sĩ chú trọng
nhiều đến cặp mắt linh động
nửa Âu nửa Á nổi bật giữa bức
tranh. Trong bức thứ nhất, tóc dài
không đen mượt như tóc các
cô gái Huế nhưng cũng không vàng
óng như tóc mẹ. Cũng dễ hiểu
khi là sản phẩm của hai dòng máu
Pháp Việt. Bức thứ nhì tương
tự bức thứ nhất và, như ba bức
sau, anh cho thêm màu vàng lên tóc.
Hai bức nầy được thực hiện
trên chiếc bàn thấp ở không gian
khách. Qua hai bức sau, anh Chỉ đẩy dĩa
và muỗng nĩa trên bàn ăn sang một
bên để có chỗ đặt tờ
giấy vẽ. Trong bức thứ ba nhìn
nghiêng, tuy vẫn là một người,
mẫu trong tranh có phần già dặn hơn,
vẻ hồn nhiên của cô gái trẻ
phần nào nhường
chỗ cho một đôi mắt mơ mộng.
Qua bức thứ tư, bộ mặt cô gái
hoàn toàn khác, vẻ vui tươi
không còn nữa. Chiều sâu đôi
mắt và hình dáng hai môi tỏa
ra một nỗi buồn thầm kín. Có
thể lúc nầy tác dụng của mấy
ly rượu đỏ Bordeaux tiếp sau mấy ly
rượu khai vị Martini bắt đầu có
ảnh hưởng lên cách vẽ. Tay không
run nhưng tâm trí họa sĩ có thể
đã được chuyển qua một không
gian khác. Anh Chỉ như tuồng không
còn nhớ mình đang ngồi với bạn
bè bên phương trời Tây. Và
vào cuối bửa ăn, thêm vào một
vài ly rượu tiêu cơm Cognac, cô
gái trong bức thứ năm không còn
là cô thiếu nữ trẻ trung lúc
ban đầu nữa mà là một thiếu
phụ tóc đen, má hõm, mắt cúi
nhìn xuống dưới, miệng hé mở,
bộ mặt thầm
lặng, nếu không đau khổ thì cũng
là ở một trạng thái suy nghĩ sâu
kín. Anh bạn Đào Hùng, có mặt
hôm ấy, vui vẻ thả một câu bình
bông lơn: nó vẽ con anh mà nghĩ
đến một cô nào đó !
Anh Chỉ không phản ứng, trầm ngâm
như đang sống lại một giấc
mơ….Chúng tôi đều lặng
thinh một hồi, tôn trọng sự định
tâm của anh.
![]()
Tranh
3
|
![]()
Tranh 4
|
Không biết gì
về ngành hội họa, tôi chỉ là
một ngưởi ngồi xem vẽ tranh, thấy
thích thú khi theo dõi biến dạng của
một bức chân dung. Càng thú vị
hơn khi họa sĩ tuy không đồng lứa,
đồng chí, là một anh bạn đồng
hương xem như là quen thuộc qua báo
chí, tranh vẽ. Anh có bức vẽ ”không
tên”,
những bức tranh nầy có thể gọi
”không
tuổi”.
Chúng tôi đưa ra phổ biến không
ngoài ước mong góp phần, dù rất
nhỏ, vào bộ sưu tập tranh đã
rất
phong phú của nhà họa sĩ trứ
danh đất Hương Bình ngày nay rải
rác khắp bốn phương. Anh Bửu Chỉ
qua đời năm 54 tuổi sau một cơn
huyết áp cao tại nhà riêng ở
Huế.
”Tôi vẫn sẽ sống
như tôi đã sống” :
đấy là những lời cuối cùng
anh trả lời câu hỏi nếu có một
đời sống khác thì
anh sẽ chọn lựa
như thế
nào. Ta có thể hiểu anh đã tự
mãn về cuộc sống của anh.
Tranh 5
Xô
thành thu đông 2012
Võ Quang Yến
Huế
Xưa và Nay 114
(11-12.2012)
http://www.diendan.org/sang-tac/mot-buc-tranh
đọc thêm:




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét